Showing posts with label Tâm tư hải ngoại. Show all posts
Showing posts with label Tâm tư hải ngoại. Show all posts

Saturday, January 31, 2015

Một xã hội cởi mở và bao dung (Tâm tư hải ngoại, )



Có lẽ không có câu viết nào, chỉ có 4 chữ ngắn gọn, nhưng mang cả một thông điệp lớn được quảng bá rộng rãi nhất trên thế giới bằng câu In God We Trust. Vì đây là câu được in trên tất cả các loại giấy bạc hiện tại của Hoa Kỳ.

Là câu viết cô đọng Đức tin của người Hoa Kỳ từ ngày tìm được vùng Đất Hứa để lập quốc!

Ban đầu là cuộc di cư của một số người phản đối sự hà khắc của Thanh giáo ở Anh nên lần lượt tìm cách sang các nước lân cận để thực hiện quyền được tự do thờ phượng Thượng Đế theo đức tin của họ. Từ năm 1607, 1608 họ đã lần lượt đến Hòa Lan, rồi sau đó chuẩn bị cho một cuộc hành trình dài bằng tàu để đi tìm một vùng đất mới, vùng đất mà họ hoàn toàn được Tự do.

Tháng 9 năm 1620 một con tàu nhỏ, tên là Mayflower, rời Plymouth ở Anh mang theo 102 người bắt đầu cuộc hành trình tìm Tự do mà sau nầy sách vở gọi họ là đoàn người Hành Hương (Pilgrims). Họ phó thác mạng sống, vượt đại dương và chỉ trông cậy hoàn toàn vào đức tin. Sau 66 ngày chịu bao khắc nghiệt của thời tiết, giông bão, sóng gió, đói khát để cuối cùng thả được neo ở Cap Cod, cách xa nơi dự rù là Hudson River. Tiếp tục cuộc hành trình, một tháng sau họ đến được Massachusetts Bay và quyết định ở lại đây. Dần dần làng Plymouth, cái tên mang kỷ niệm nơi xuất phát được hình thành. Năm sau đó, tháng 11 năm 1621, nhờ được mùa, chỉ còn 53 người sống sót đã cùng với một số người da Đỏ, những người đã giúp đỡ họ trong những ngày khốn khổ khi vừa đặt chân đến một vùng đất vừa xa lạ vừa gặp lúc thời tiết vô cùng khắc nghiệt, tổ chức lễ Tạ ơn đầu tiên. Cho dù đã hoàn tất cuộc hành trình và số người bị chết gần phân nửa nhưng đức tin vào Thượng Đế của họ vẫn không hề thay đổi. Rồi diễn biến theo thời gian dài đằng đẵng, ngót 3 thế kỷ sau, qua rất nhiều tranh cãi, từng bước, từng bước để cuối cùng, năm 1941, Tổng thống Roosevelt đã ký ban hành đạo luật, quyết định chọn ngày Thứ Năm, tuần lễ thứ tư của tháng Mười Một hàng năm là ngày lễ Tạ ơn của đất nước và dân tộc Hoa Kỳ.

Một ngày lễ đặc biệt, mang một ý nghĩa vô cùng thiêng liêng của mọi sắc dân sinh sống trên đất nước nầy.

Câu In God We Trust được khởi đầu từ lá thư ghi ngày 13 tháng 11 năm 1861 của Mục sư Watkinson ở Ridleyville, Pennsylvania gửi ông Bộ trưởng Tài chánh Salmon P. Chase lúc bấy giờ, nói về đức tin và dòng chữ tổng cộng có 13 chữ cái (letter) là God, Liberty, Law trên lá cờ Hoa Kỳ lúc đó, tượng trưng cho con số 13 tiểu bang đầu tiên. Yếu tố quan trọng của dòng chữ nầy là God (Thượng Đế) đứng trước tiên, kế đến là Liberty (Tự do) và sau cùng là Law (Luật pháp) đã diễn tả đúng theo trình tự họ thực hiện được.

Đề nghị của Mục sư Watkinson được nhiều người thảo luận đã đưa đến việc Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật ngày 22 tháng 4 năm 1864 cho phép đúc 4 chữ In God We Trust (thay cho God, Liberty, Law) đầu tiên trên đồng coin 2 xu và đến ngày 30tháng 7 năm 1956 thì chính thức in trên tất cả giấy bạc đưa vào sử dụng từ năm 1957.

Từ một nhóm người Hành Hương nhỏ bé tiến đến hình thành một quốc gia Hoa Kỳ ngày nay, một đất nước giàu mạnh và văn minh nhất thế giới, thì câu viết In God We Trust không đơn giản chỉ là câu chữ được quảng bá toàn cầu mà chính nó còn mang theo sự thiêng liêng của đất nước và dân tộc Hoa Kỳ kể từ ngày lập quốc!

Tuần trước, một cơ sở lớn mới xây, đã khánh thành khoảng 3 tháng qua, tại thành phố tôi đang ở, tốn 80 triệu, dành cho các ban ngành làm việc. Tất cả được trải thảm màu xanh. Phòng khách khu vực dành cho văn phòng Pinnellas County Sheriff được trải thảm có dệt thêm huy hiệu của cảnh sát, một biểu tượng thật trang trọng, cũng giống như một số cơ sở về an ninh tại Hoa Kỳ, bỗng có người phát hiện trên cái huy hiệu hình tròn đó, sai một chữ. Nhưng chữ sai lại mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đức tin của người Hoa Kỳ (như đã tóm lược bên trên) Câu đó viết đúng phải là In God We Trust nhưng trên tấm thảm dệt là In Dog We Trust! Chữ God là Thượng Đế biến thành Dog là con chó! Trị giá tấm thảm chỉ 500 đô, vì thế cảnh sát thông báo cho hãng dệt thảm. Hãng dệt thảm nhận trách nhiệm và sẽ thay tấm mới. Nhưng chuyện không dừng ở đó khi bên ngoài hay tin nội vụ. Ban đầu cảnh sát dự trù sau khi thay thảm mới họ sẽ đem vứt tấm thảm cũ vào thùng rác nhưng khi bức ảnh chụp tấm thảm với dòng chữ In Dog We Trust được đưa ra công luận thì có một số người gọi điện thoại và gửi email đòi giữ lại. Họ muốn mua nó thay vì vứt đi, vì họ là những người yêu chó! Rồi nhiều người cũng muốn mua nên sau cùng cảnh sát quyết định rao bán đấu giá tấm thảm trong vòng một tuần. Có 83 người tham dự từ khắp nơi trên thế giới và kết quả là một người, không cho biết danh tánh, đã mua được tấm thảm tình cờ nổi tiếng nầy, với giá 9,650 đô! Cảnh sát cho biết họ sẽ dùng số tiền nầy gửi tặng cho một trung tâm chăm sóc chó mèo bị bỏ rơi hay thương tật mà chưa được người nhận nuôi!

Tờ báo thuộc loại Best Newspaper của Tiểu bang đã có 3 số tường thuật về diễn tiến sự việc nhưng không đưa câu chuyện vừa kể lên trang nhất mà chỉ đăng ở trang giữa của phần tin tức về Tiểu bang và Thành phố với tựa đề rất nhẹ nhàng, “đánh vần sai” (misspelled), cho dù đây là tấm thảm được dệt thành chứ không phải viết tay. Vì nếu là viết tay thì cách giải thích viết sai chính tả có lẽ dễ được đồng ý hơn! Nhưng, “chuyện chẳng có gì mà ầm ĩ”, nó chỉ là thứ tin tức lặt vặt, không đáng quan tâm! Còn TV hình như cũng muốn phớt lờ.

Liệu tin và ảnh tấm thảm nầy được phổ biến mà có liên quan đến đạo Hồi thì bọn thánh chiến Hồi giáo cực đoan sẽ phản ứng ra sao?

Vì thế, cùng một vấn đề nhưng mức độ hiểu biết­­ của người dân khác nhau sẽ có kết quả khác nhau, đôi khi còn trái ngược đến bất ngờ như đang xảy ra. Một bên là sự thân thiện, cởi mở và bao dung, đã làm lợi cho công ích xã hội, còn bên kia thì máu người vô tội phải đổ! Cực đoan, cho dẫu cực đoan về vấn đề gì thì cũng dễ đưa đến xung đột một cách vô ích. Là bài học mà Charlie Hebdo đã vướng phải tại Pháp với cái giá phải trả trước tiên chính là mạng sống con người.

(Jan 27th, 2015)

Thursday, January 15, 2015

Truyện ngắn: NGƯỜI NỮ TÙ SÀN CÁT GIỮA MÙA XUÂN ĐEN (Tâm tư hải ngoại,)



Trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết trong những ngày đầu mùa Xuân 1975 thê lương, tang tóc; mầu nắng dường như vàng úa, bệnh hoạn giăng giăng khắp nước… Khi mặt trời mọc lên, ngày không còn là “một ngày như mọi ngày”, nó có cái gì thảng thốt, bàng hoàng, âu lo trên những gương mặt học trò, cái thay đổi đột ngột, ngỡ ngàng, cùng lúc lại thấy xuất hiện những mầu đen trên các tấm áo học trò, cả đến các cô giáo trẻ. Những tà áo dài trắng không còn bay trong gió sớm trước sân trường. Giép râu và mầu đen của những chiếc áo bà ba đồng loạt “hồ hởi phấn khởi lên ngôi” dưới bóng cờ đỏ. Cột cờ giữa sân trường ép mình trong hàng cây xanh, lạnh lùng khi mầu cờ bị “thay bậc đổi ngôi.”
Cũng tà áo dài trắng dịu dàng Bình vẫn mặc đến trường hàng ngày như trước đây, song hôm nay nó lại có vẻ khác thường; nó trở nên đài các, nó trở nên tuyệt vời; nó có vẻ vừa dễ thương, vừa thách thức giữa rừng áo bà ba đen trong trường. Các cậu con trai cùng lớp, khác lớp, nhìn cô thích thú, nhưng các thầy cô đến từ miền Bắc của chế độ mới lại nhìn cô với đôi mắt bực mình, khó chịu. Bình, cô nữ sinh Phan Bội Châu, bỗng xuất hiện như một nàng tiên ngủ quên trong cuộc đổi đời oan nghiệt, và bỗng giật mình thức dậy giữa rừng người trần tục, nhỏ nhen như những người xa lạ từ một quê hương nào đó mà cô chưa từng sống. Cô bước vào lớp với tà áo trắng thướt tha trong nắng sớm.
Điều mà Bình nhận thấy nhưng phớt tỉnh là hôm nay, thày cô cũ của trường đã bắt đầu theo mốt bộ đội Trường Sơn của những thầy cô Miền Bắc mới đổi vào Nam và nắm quyền điều khiển nhà trường trường. Guốc gỗ, giép râu thay giầy cao gót, áo bà ba đen đã thay thế những tà áo dài, và vài cô còn có chiếc mũ tai bèo đội trên đầu như mấy cô du kích mới về thành từ rừng núi. Những chiếc nón lá bài thơ cũng sợ “cách mạng” nên từ từ biến mất. Các thầy miền Nam cũng âm thầm cho các chiếc cà vạt, bộ áo vest chui vào tủ áo cho hợp trào lưu, cho khỏi bị nhà nước mới nghi ngờ lòng thủy chung với “cách mạng” để giữ thân, giữ việc làm nuôi sống gia đình với một tương lai đen trước mặt: “tôi đi không thấy phố, không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ” . . . ( Trần Dần)
Riêng đám học sinh thì việc thay đổi áo quần khi đến trường hàng ngày lại vô cùng chậm. Dường như chúng có một cái gì khinh miệt, đề kháng trước những hình thức xuống cấp của những thầy cô sau ngày miền Nam sụp đổ. Đứa bạn trai của Bình đến gần, nói nhỏ:
- Cách mạng vào đáng lẽ đời phải lên hương, nhưng sao lại cái gì cũng có vẻ xuống dốc và xuống cấp, kể cả việc ăn mặc. Bình tiếp tục mặc áo dài thì thầy hiệu trưởng mới sẽ để ý nhưng bọn tôi lại thích thú ! Kệ mẹ nó! Bình là biểu tượng anh hùng của trường đó. Không mặc áo bà ba đen xem họ có đuổi Bình hay không!
- Anh cẩn thận, đừng nói lớn ? Bình mặc áo bà ba đi học không quen, Bình mặc áo dài đi học từ hồi Đệ Thất, thay đổi khó lắm!
- Mà Bình có biết chiếc áo dài trắng Bình còn đang mặc lúc này là hình bóng nổi bật, ngạo nghễ và dễ thương nhất trong sân trường lúc này hay không?
- Bình đâu biết! Tại thinh không cả trường lột xác đổi màu, chừa lại một mình Bình. Bình thích mặc áo dài là Bình cứ mặc áo dài, chừng nào trường ra lệnh cấm mặc áo dài thì Bình tính sau. Lúc đó, có thể Bình mượn áo bà ba của má để mặc đi học nếu không còn quyền tự do mặc áo dài trong trường !
- Vậy là Bình số một, nhất trường!
Gần hai tuần sau, khi tà áo dài trắng nữ sinh của Bình còn ẩn hiện trong sân trường, làm xốn mắt thầy “đồng chí ” hiệu trưởng, Bình bị gọi lên văn phòng.
- Thưa thầy ạ !
- Cô ngồi xuống! Cô có biết nay cả nước đang đổi thay theo cách mạng, đã bắt đầu thực hiện nếp sống mới, tiến bộ, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa. Tất cả thầy cô và bè bạn cô đều ý thức được điều đó, tại sao chỉ một mình cô là còn mặc chiếc áo dài tiểu tư sản phi lao động, phi sản xuất thời “Ngụy” như thế này?
- Thưa thầy? Em mặc áo dài từ hồi lớp Đệ Thất. Em vẫn chăm học, em vẫn là một học sinh tốt, em thấy không có gì sai khi mặc áo dài đến trường!
- Vậy thì cô không muốn hòa mình với cách mạng? Bố cô là ngụy quân hay ngụy quyền? Trường sẽ xem xét trường hợp của cô. Tùy cô! Cho cô trở về lớp!
Trở về lớp, bạn bè Bình lo cho Bình ra mặt. Tan trường, Bình ra về, nét tiểu thư, nhí nhảnh, dễ thương của Bình biến mất, dường như nó nổi sóng trong đôi mắt đen láy của Bình. Bình không còn nụ cười hồn nhiên như mọi hôm. Ngôi trường thân yêu ngày nào chợt trở nên u ám, lạnh nhạt, từ gốc tre trồng từ thời Thầy Hiệu trưởng Lê Tá, từ gốc cây bóng mát trong sân trường, từ trụ cờ phất phơ mầu cờ đỏ, cho đến cả cổng trường đầy kỷ niệm mà Bình thường chùm nhum chụp hình cùng bạn bè mỗi khi mùa Hè đến. Phố phường cũng mang dáng lạ trong mắt Bình.
Tà áo trắng vẫn lượn vô tình theo chân Bình trên đường về nhà , song lòng cô ngổn ngang trăm mối. Ông hiệu trường gốc Bắc đã hỏi đến lý lịch ông già, và nếu chỉ vì một tà áo dài của Bình mà ông bị nhà nước, công an dòm ngó, việc học của Bình dang dở thì Bình sẽ đau khổ vô cùng.
Chúa Nhật, Bình ở nhà, bài vở xong, Bình giặt ủi mấy bộ áo dài, xếp cẩn thận và đặt sâu vào trong hốc tủ như cất dấu cả một trời thơ ấu vừa vỡ vụn đột ngột, không ngờ.. Bình bỗng bật khóc, hai hàng nước mắt lăn tròn lên má , lớp này khô, lớp khác ứa tuôn. Không biết Bình khóc cho những kỷ niệm thơ ấu ẩn kín, tàn lưu trong những vạt áo bay khi đến trường mỗi buổi sáng, hay Bình khóc vì uất ức ông hiệu trường soi mói hồ sơ, lý lịch Bình, uất ức với những thứ đổi đời ngang ngược, trắng đen trong đời sống, trong lớp học, trong sân trường . . . Bình hối tiếc . . . “Phải chi kỳ di tản ở Sài gòn em vô được với anh Ba, em lên tàu anh, đi luôn qua Mỹ với anh thì ngày nay em đâu bị cảnh oan trái như thế này!”.
… Bình thức tới nửa đêm, ngồi viết cho người anh ruột ở Mỹ mấy dòng thư tâm sự:
Phan Thiết ngày 20 tháng 02 năm 1979
Kính gửi anh Ba thương nhớ!
Anh Ba ơi! Anh là một người may mắn, vì anh đã thoát khỏi Việt Nam. Ba má và em là những người bất hạnh, vì là người ở lại đất nước này. Em đã ân hận, tiếc nuối vì khi chạy được vào Sài Gòn thì anh đã theo tàu hải quân rời bến Bạch Đằng ra biển. Cả gia đình bị kẹt dọc đường vì những trận đánh ở Long Khánh. Ba má buồn và nhớ anh. Không biết cuộc sống anh bên đó ra sao, nhưng dù sao thì anh cũng được tự do, ra đường không bị công an áo vàng soi mói từ đầu hẽm đến góc xóm. Thấy mặt bọn này là ghét, là bực, là sợ. Tiếp tục sống như thế này chắc có ngày em chết mất.
Cách đây mấy hôm, em bị khó khăn trong trường vì em tiếp tục mặc áo dài trắng đi học, họ muốn thầy, cô, học trò phải hòa mình theo “cách mạng”, nghĩa là phải mặc áo bà ba đen, mang giép, dẹp áo dài. Ông hiệu trưởng mới kết tội em là mặc áo quần kiểu tư sản, và còn đề cập đến lý lịch của em. . . Ông ta còn hỏi em Ba là “ngụy quân” hay “ngụy quyền”. Chi vậy. Bộ chỉ vì cái áo dài của em mà Ba bị công an để ý hay sao? Chế độ gì mà bần tiện một cách phi lý như vậy? Chắc em không sống nổi trong cái không khí như vậy anh Ba ơi!
Ba má giờ khổ lắm! Ba phải lên Bình Tú trồng khoai lang, Má bán lặt vặt trên cái sạp ngoài chợ Phường để kiếm sống qua ngày. Nếu không có ít quà anh gởi về phụ gia đình, có lẽ em đã bỏ học. Mà cái kiểu em phải mượn áo bà ba của Má để đến lớp thì em tức không chịu được. Tương lai của Ba Má và của chính em sẽ vô cùng đen tối trong những ngày sắp tới. Em thương Ba nên tuần sau em sẽ đến trường trong cái áo bà ba đen vá lưng của má . Em không thèm may áo mới.
Em gởi lời thăm sức khỏe anh Ba. Nếu anh thong thả, tháng sau gởi về cho nhà chút đỉnh quà. Chúc anh Ba khỏe mạnh.
Em.
Nguyễn Thị Giáng Bình
Bức thư Bình gửi từ Bưu Điện Phan Thiết, thư chạy vô Sài Gòn, từ Sài Gòn bò ra Hà Nội để nhà nước kiểm soát trước khi gởi đi ra nước ngoài. Từ Hà Nội, hệ thống kiểm duyệt của chế độ đã đọc được những lời Bình viết trong thư. Thư được chuyển ngược về Nam để điều tra ai là người viết, vì địa chỉ và tên người viết Bình cẩn thận không ghi thật trên phong thư, nhưng nhà nước cộng sản biết tác giả lá thư là một cô học trò của trường trung học Phan Bội Châu. Căn cứ vào thủ bút và tên họ, công an đã phăng ra Bình, và chộp Bình ngay trong lớp học. Cô bé bị còng áp tải ra khỏi lớp trước những đôi mắt ngạc nhiên, kinh hoàng của cô giáo, bè bạn. Đôi mắt đen láy trên gương mặt dễ thương của Bình nhìn lại lớp và bè bạn lần cuối, lặng lẽ theo toán công an. Cả lớp kinh ngạc, bàng hoàng, thương xót khi Bình rời lớp . .
Trước khi bước lên xe, tên công an chìa thư Bình và hỏi:
- Thư này của cô?
- Thưa đúng! Chính tôi là Giáng Bình! Chính tôi đã viết lá thư đó cho anh tôi ở Mỹ . Tôi viết sự thật những gì tôi cho là sự thật! Đúng! Đó là cái thư riêng của tôi! Sự thất vọng và đau đớn duy nhất của tôi bây giờ là thư tôi đã bị mấy ông kiểm duyệt và nó không đến được tay anh tôi!
o O o
Thành phố Phan Thiết có một trại tù rất chật hẹp, trên giấy tờ, nhà nước gọi là “Trại tạm giam thuộc công an thị”, tức trại thuộc quyền quản trị của công an thị xã, nằm cạnh bệnh viện Phan Thiết trên đường nối liên tỉnh lộ 8 lên Ma Lâm, Thiện Giáo. Trại đó, bà con quen gọi là “trại thẩm vấn Phan Thiết” mà trước 1975, chính quyền VNCH dùng giam và thẩm vấn tù, hàng binh cộng sản. Sau 1975, trại đó trở thành một trong những trại giam tàn độc nhất ở miền Nam giam giữ những tù nhân chống, chê hay trốn chạy cộng sản. Bất cứ ai từ Sài Gòn muốn ra Phan Thiết vượt biên, khi nghe nhắc đến “Trại Thẩm Vấn” đều thấy xương sống như có một luồng điện chạy ! Bị kết tội “bôi bác và nói xấu cách mạng“, Bình bị tống giam vào cái trại “địa ngục trần gian” này.
Sau 7 tháng biệt giam, một buổi sáng, tôi được cho ra khỏi phòng ngang người đông nghẹt, hôm sau được cử theo toán lao động để lên Hầm Đá lấy cát về xây thêm phòng giam. Thân thể gầy còm, da trắng nhạt như tờ giấy, nhưng các cơ thịt tong teo còn lại cũng còn đủ sức giúp tôi trèo lên chiếc GMC cùng các bạn tù . Chúng tôi bị dồn về phần trước của thùng xe, phía sau là hai công an tay cầm AK, đạn nằm sẵn trong nòng súng hồi nào không biết, mũi súng chĩa tầm ngang vào đám tù để sẵn sàng nổ súng khi có chuyện bất trắc Một tên công an cảnh cáo:
- Chúng tôi báo trước! Được cách mạng cho đi lao động là may mắn lắm đấy ! Từ đây đến chỗ lấy cát, các anh phải tôn trọng kỷ luật, không được có những hành động linh tinh, anh nào trốn bỏ chạy khi lao động là chúng tôi bắn bỏ tại chỗ đấy! Các anh nghe rõ không?
Bọn tù chúng tôi nghe rõ, và hiểu là tên công an không dọa suông, mạng sống người tù như con vật trong tay cộng sản, thì việc bị bắn khi bỏ chạy là điều chắc chắn. Không thằng nào ngu mà chạy khi thân mình ốm như con ma đói, cẳng chân tong teo, nhất là chạy giữa đồng trống, chạy chỉ một nửa đám ruộng là vọp bẻ trong tầm bắn, làm mồi cho mấy viên đạn đồng AK! Cái mà bọn tù sợ gần như xanh mặt là hai họng súng AK chĩa vào đám tù lúc nhúc, lắc qua lắc lại mỗi khi xe qua mấy cái ổ gà, ổ voi trên đường.
Khi hai cái đầu ruồi AK chuyển qua lại tầm ngang hông tù bọn tù cứ chăm chăm vào hai ngón tay hai tên công an móc tròn tên cò súng; nó mà cướp cò, dù là tai nạn ngoài ý muốn, tràng đạn AK cũng cho ít nhất là vài tên tù theo ông bà . . . Rồi ai làm gì ai? Cha mẹ , gia đình chỉ có nước đem con về chôn !
Tù được được chở đi lấy cát trên những dòng suối cạn phía trên Hầm Đá, gần Ma Lâm, đến chiều, xe chở tù và cát về trại. Những đống cát trước sân trại lớn dần theo số lượng người vượt biển bị bắt ngày càng nhiều. Nghe đồn Thuận Hải hai năm liền đoạt cờ luân lưu của chủ tịch Tôn Đức Thắng về thành tích bắt và tù đày những người bỏ nước ra đi không thoát vào những năm 1976, 1977. Niềm tự hào đen của những người cộng sản cứ từ đó nẩy nở, lớn dần trên nỗi khốn cùng, tuyệt vọng của muôn dân.
Hôm sau bị điều ra bửa củi trước sân trại, tôi thấy Bình và hai bà già ngồi sàn cát gần đống củi. Sau những tháng tù đày Bình vẫn dễ thương, tiểu thơ, lộng lẫy dưới nắng hồng. Vẻ hồn nhiên, chịu đựng những bất hạnh trước cuộc đời của Bình, đối với tôi, dường như nó có ý nghĩa của một cái gì như thách thức và khinh bỉ chế độ.
Nắng đã nghiêng sang một góc, bóng cây chuối che được một mảng trời nho nhỏ gần nơi những người nữ tù sàn cát. Tôi bửa đống củi gần xong, nghỉ tay ngồi xuống bóng mát. Nhân lúc đám cán bộ và công an ngồi vào bàn ăn trưa, không chú ý đến đám tù, tôi hỏi Bình:
- Nhà có bỏ bao cho Bình vào dịp Tết rồi không?
- Dạ có ! Cô Lương và bé Nguyên ở cùng phòng em! Tội nghiệp thằng bé mới có 3 tháng, nó vào tù, nó biết gì! !
Tôi không trả lời Bình, song lại hỏi em:
- Em biết họ bắt em sàn cát để làm gì không?
Giọng Bình buồn buồn:
- Em biết chớ ! Bộ anh không thấy họ đúc gạch xây thêm phòng giam sao? Em nghe nói có mấy anh học sinh Phan Bội Châu vừa bị bắt vì rãi truyền đơn, không chừng cát em sàn sẽ dùng xây phòng giam các bạn em!
- Định mệnh oan nghiệt phủ lên cả nước, đâu chỉ đổ lên đầu em và gia đình anh! Chúng ta cùng đường, mọi người cùng đường, cả nước cùng đường. Cắn răng mà chịu thôi!
Hai tay Bình vẫn tiếp tục sàn cát, nói nhỏ cho tôi đủ nghe:
- Anh vừa cải tạo về , lại vô tù trở lại vì tội vượt biên, chắc lần này anh lãnh đủ !
Tôi thở dài, buông một lời tuyệt vọng ngắn ngủi:
- Định mệnh!
Và tôi hỏi tiếp:
- Trong hoàn cảnh em, em có dự liệu hay hy vọng gì không? Anh muốn nói chuyện lá thư của em?
- Em không biết! Tới đâu hay tại đó ! Phó mặc . . . Nhưng đôi lúc em muốn một trái bom nguyên tử. . . !
- Cái gì? Một trái bom nguyên tử?!
- Em muốn một trái bom nguyên từ nổ trên đầu thành phố này ! Đó là cách duy nhất để được tự do viên miễn, cho em và cho cả mọi người !
Tôi nghe giọng Bình vỡ ra từng mảnh nhỏ cùng những giọt nước mắt lăn trên má dưới nắng trưa. Trên chòi canh trước cổng trại, người công an gác trại ngủ gục trong gió xuân hiu hiu thổi . . .
Tiếng chén đũa, tiếng ghế khua trong phòng ăn tập thể của trại cho tôi đoán bữa cơm của công an trại sắp xong, tôi ngửa cổ tụm một ngụm nước, chưa kịp đứng dậy bửa những khúc củi còn lại, tên công an Mười Đầu Bò nói vọng từ giếng nước khi hắn ra giếng rửa miệng:
- Ai cho phép anh nghỉ tay liên hệ nói chuyện với mấy người sàn cát? Bàn chuyện vượt trại hả? Trốn lên trời! Trở lại làm việc đi !
Tôi bật dậy như cái lò xo, chụp búa bửa củi trở lại. Bình nghe rõ mồn một từng lời nhiếc mắng của tên công an nhắm vào tôi. Bình nhìn tôi thương xót. Tôi bỗng như nghe lại tiếng nói với tôi khi nãy của Bình: “Một trái bom nguyên tử nổ trên đầu. . .”. Cả nước bị dồn vào tuyệt lộ, đói khổ, áp bức và tuyệt vọng. Chết là giải thoát!
Tôi viết lại những dòng này giữa trời Đông bắc Mỹ. Hình ảnh Bình, người nữ tù sàn cát vẫn còn nguyên trong ký ức tôi như chỉ mới hôm qua. Không có một quả bom nguyên tử nào nổ trên trời xuân Việt Nam như mơ ước của Bình trong cơn tuyệt vọng.
Mùa xuân còn đó, vẫn đến với nước Việt Nam theo chu kỳ của trời đất, song đó vẫn chỉ là những mùa xuân đen hận khổ, ly chia và bất hạnh dưới mầu cờ đỏ . . .

Wednesday, January 14, 2015

NGHIỆT NGÃ - Minh Bolsa (Tâm tư hải ngoại,)




Hai đứa cùng thày dù khác lớp
Áo vải quần thô , tóc học trò
Đường làng lá trúc sương mai ướt
Sánh bước kề vai thủa ấu thơ



Còn nhớ chiều về chơi tập trận
Súng trúc đạn soan chẳng giết người
Nhanh chân mày núp gốc cây mận
Bắn , tao giả chết , rộ vang cười



Năm Tư đất nước chia đôi ngả
Bố tao dắt díu tản vào Nam
Thày mày ở lại chăm mồ mả
Chúng mình nghiệt ngã mối giây oan



Mày vào bộ đội , tao đi lính
Theo quân phương bắc vượt Trường Sơn
Bảo vệ miền Nam ghì nấc súng
Hai đứa vì đâu một mất còn




Chinh chiến rạc rài tưa nón cối
Hành quân vạt gót " bốt đờ sô "
Súng Mỹ , Đạn Nga , xác Việt rưới
Chém giết cho cùng một ước mơ



Mày đem chủ lực công đồn quận
Tao đến theo quân tiếp viện đồn
Xác chết ai phơi bên gốc mận
Ngờ ngợ xem tên buốt lạnh hồn




Cuộc chiến tương tàn rồi kết thúc
Thêm lần tao sống biệt quê hương
Mày chết không mang về hạnh phúc
Chúng mình bất hạnh lãnh tai ương 




Monday, January 12, 2015

Để được làm người tử tế (Tâm tư hải ngoại)

Hồ Quốc Tuấn (*)

 

 

 

 

Việt Nam đang cố gắng đầu tư cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Ảnh: MINH KHUÊ
(TBKTSG) - Trong một thời gian dài, Việt Nam đã chọn mô hình tăng trưởng kinh tế có tính “đi tắt đón đầu”, chọn cái dễ mà làm, dựa vào nguồn ngoại lực và tài nguyên sẵn có, và hệ quả là đã làm triệt tiêu nội lực, thỏa hiệp với tiêu cực và chèn ép người tử tế...
Từ một mô hình kinh tế “đi tắt đón đầu”...
Từ khi kinh tế mở cửa, Việt Nam đã đạt được những bước tăng trưởng rất ấn tượng trong hơn hai thập niên, bất chấp đợt khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có tính đi tắt đón đầu, chọn cái dễ mà làm. Đặc trưng của mô hình này chính là việc dựa vào nguồn ngoại lực như vốn nước ngoài, bao gồm cả FDI, ODA và vốn đầu tư gián tiếp, đồng thời thúc đẩy những tập đoàn kinh tế nhà nước lớn, nhắm tới làm những cái to lớn, “hàng đầu thế giới”, trong khi bỏ qua việc chăm lo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa và từng bước xây dựng nội lực để phát triển kinh tế.
Mô hình kinh tế này tận dụng sự thâm dụng nguồn tài nguyên sẵn có, lao động và vốn (mà một phần đáng kể là nguồn vốn bên ngoài), và sự lạc quan đối với một nền kinh tế mở cửa để tạo ra tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng.
Nhưng quá trình mở cửa và gỡ bỏ những rào cản trong môi trường kinh doanh đó đã chững lại từ những năm đầu thế kỷ 21. Những năm 1998-2001, để duy trì tăng trưởng kinh tế, thay vì tiếp tục chọn con đường có nhiều thử thách là đẩy mạnh cải cách và cởi trói cho môi trường kinh doanh, Chính phủ đã chọn con đường dễ hơn, gia tăng vay nợ (bao gồm ODA) và ưu đãi cho dòng vốn đầu tư quốc tế, bất chấp việc phải cấp nhiều vốn hơn mới đạt được 1% tăng trưởng. Nhưng một phần lớn nguồn lực đó chủ yếu lại được chuyển qua các nhóm lợi ích như các tập đoàn kinh tế nhà nước, một phần không nhỏ dòng vốn nước ngoài lại chảy vào bất động sản hoặc những hoạt động kinh doanh không đem lại những chuyển giao kỹ thuật.
Hệ quả của con đường tăng trưởng dễ dàng này là hiệu quả đầu tư và ứng dụng công nghệ trong nền kinh tế ngày một giảm sút trong khi môi trường kinh doanh hầu như không cải thiện đáng kể. Hệ số về hiệu quả sử dụng vốn ICOR cho thấy chi phí vốn tăng thêm để tạo ra một đồng tăng thêm của GDP ngày càng cao. Theo một bài về đánh giá hiệu quả đầu tư của tác giả Bùi Trinh trên TBKTSG năm 2011, nếu giai đoạn 2000-2005 bỏ ra gần 5 đồng có thể tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP, thì đến giai đoạn 2006-2010 phải bỏ ra 7,4 đồng mới tạo ra 1 đồng tăng thêm của GDP.
Trong phân tích của mình, tác giả Bùi Trinh cũng cho thấy hệ số TFP, đo lường đóng góp của tiến bộ công nghệ đến tăng trưởng kinh tế, chỉ còn đóng góp 8,8% vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2006-2010 so với mức 22% của giai đoạn 2000-2005. Nói cách khác, phí tổn vốn cho 1 đồng tăng trưởng GDP tăng đến gần 50% trong giai đoạn 2006-2010 trong khi tác động của công nghệ đến tăng trưởng kinh tế tụt dốc thảm hại trong khi người ta vẫn cho rằng với việc mở cửa và đón nhận FDI chúng ta sẽ học hỏi được kinh nghiệm và công nghệ của nước ngoài.
Trong khi đó, môi trường kinh doanh (theo báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới) không có cải thiện đáng kể ở các khoản mục thành lập doanh nghiệp, cung cấp điện, thuế, bảo vệ nhà đầu tư từ sau năm 2005. So với các quốc gia láng giềng, xếp hạng về môi trường kinh doanh của Việt Nam bị bỏ xa so với nhóm Singapore, Malaysia và Thái Lan, và quanh đi quẩn lại trong nhóm với Indonesia, Philippines và Trung Quốc.
Thực trạng xếp hạng thấp từ báo cáo của Doing Business 2015 và con số TFP năm 2011 của tác giả Bùi Trinh tuy khác nhau về thời điểm nhưng chỉ ra một điều: cơ sở hạ tầng và khả năng hấp thu công nghệ của Việt Nam đã và đang tụt hậu so với yêu cầu của nền kinh tế. Nói cách khác, tăng trưởng dựa vào ngoại lực không hề lan tỏa thành một cú hích đáng kể cho nội lực, mà lại còn triệt tiêu nó.
Có thể nói, tình thế nợ công tăng, nợ xấu nhiều, doanh nghiệp tư nhân suy yếu như hiện nay là hệ quả của một tư duy tăng trưởng kinh tế dễ dàng, đi tắt đón đầu, dựa vào ngoại lực và bỏ bê nội lực, đến mức mà chuyên gia Phạm Chi Lan phải lo ngại là sắp tới chúng ta chỉ có thể còn các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chứ không còn “nhỏ và vừa” nữa.
...biến điều bất thường thành bình thường
Không chỉ nợ công, nợ xấu cao và nền kinh tế kiệt quệ nội lực, cái nguy hiểm nhất của mô hình tăng trưởng dễ dàng này là nó đi kèm với một tư duy phải tạo ra thành tích nhanh và nhiều, sẵn sàng thỏa hiệp với tiêu cực miễn sao “được việc”, dẫn đến những điều bất bình thường được xem là bình thường. 
Lấy ngành ngân hàng làm ví dụ. Đã có một giai đoạn, sở hữu chéo giữa các ngân hàng trở thành chuyện bình thường trong giai đoạn trước khi khủng hoảng toàn cầu lan rộng đến Việt Nam và thậm chí vài năm sau đó. Nếu không có sự sụt giảm tăng trưởng dẫn đến nợ xấu ngân hàng tăng nhanh và những hệ lụy sau đó, có lẽ đó vẫn là một điều được hiển nhiên chấp nhận trong ngành ngân hàng.
Không chỉ trong ngành nhạy cảm như ngân hàng, mà ở khắp các lĩnh vực trong nền kinh tế, hành vi trốn thuế, làm giá chứng khoán, vay nợ không có trách nhiệm, buộc ngân sách bù đắp những khoản lỗ, duy trì tình trạng độc quyền và bất chấp lợi ích dân tộc để bảo vệ lợi ích nhóm... sinh sôi và nảy nở nhanh chóng. Người ta không quan tâm đến cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng bằng cách cải tiến chất lượng và năng suất, mà chỉ quan tâm làm sao tiêu diệt được đối thủ nhanh nhất và làm giàu dễ nhất.
Càng ngày chúng ta lại càng thấy nhiều hơn những điều không bình thường. Những thương hiệu mà người Việt Nam có thể tự hào là của mình ngày một giảm đi (bị bán đi hoặc mất đi). Môi trường bị tàn phá khiến chúng ta không còn nhiều cảnh đẹp thiên nhiên để khoe với bạn bè quốc tế, chỉ còn lại những bờ biển bị băm nát. Con số tiến sĩ chúng ta đào tạo ngày càng tăng nhanh nhưng số công trình khoa học được đăng tạp chí quốc tế có uy tín và số ứng dụng công nghệ không tăng tương ứng. Những điều này thoạt đầu xuất hiện thì gây bàn tán trong dư luận như những điều lạ, bất thường, dần dần, dường như trở thành một sự thật hiển nhiên đang diễn tiến tại Việt Nam. Càng ngày người ta càng nhắm mắt với những tiêu cực, từ các cơ sở kinh tế cho đến bệnh viện, trường học, miễn là nó “bôi trơn” được cho sự vận hành của nền kinh tế.
...và hiệu ứng “chèn ép người tử tế”
Khi những tiêu cực của xã hội ngày một nhân rộng và trở thành chuyện bình thường, những người tử tế không chấp nhận thỏa hiệp với tiêu cực sẽ hoặc là phải tự động rút lui hoặc bị “chèn lấn” (mượn từ thuật ngữ crowding out trong kinh tế học). Đây là một hiệu ứng không mong muốn của mô hình tăng trưởng cũ của Việt Nam.
Lấy ví dụ, trong một nền kinh tế mà bong bóng tài sản bị đẩy lên đỉnh điểm như cách đây vài năm, để có thể vay vốn ngân hàng trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và mọi người đòi hỏi tỷ suất sinh lợi cao một cách bất hợp lý (do bong bóng tài sản và lãi suất cao gây ra), khi không có cách nào để kiếm ra tỷ suất sinh lợi đó một cách đàng hoàng thì người ta móc nối với nhau để làm ra những con số, những dự án không có thật, thổi phồng những chiêu kiếm tiền để lừa ngân hàng, lừa nhà đầu tư và lừa lẫn nhau. Hệ quả là nợ xấu ngày càng chồng chất, các vụ án kinh tế, lừa đảo ngày một nhiều, còn người làm ăn tử tế thì vay không được tiền hoặc không dám vay vì lãi suất quá cao.
Trong lĩnh vực giáo dục hay y tế cũng dễ tìm thấy những cái không tử tế. Chẳng hạn, vì việc chạy theo cái gọi là có công trình khoa học đăng báo quốc tế nhanh nhất, người ta bất chấp mọi cách để có tên đăng báo, bất chấp ngụy tạo số liệu, đồng tác giả, hay thậm chí cố mà ra được một tạp chí quốc tế và tranh cho được quyền tổng biên tập. Vậy thì làm sao có người dám ngồi làm một công trình nghiên cứu công phu nhiều năm mà cuối cùng kết quả cũng y như người “đi tắt đón đầu”?
Bài học khủng hoảng tài chính gần đây ở nước ngoài và những vấn đề trong nước cho chúng ta thấy thỏa hiệp với những điều không đàng hoàng sẽ mang lại hệ quả khôn lường. Đối với ngành ngân hàng trong nước, chúng ta đã làm quá trễ trong chuyện kiểm soát rủi ro, dẫn đến nợ xấu tăng mạnh. Đối với tài chính công, chúng ta đã để cho sự lãng phí và tham nhũng trong các dự án công và công ty nhà nước đi quá xa để dẫn đến những sự cố “Vina”. Chúng ta không nên để những chuyện như vậy lặp lại nữa.
Đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận rằng con đường của Việt Nam sẽ không còn dễ dàng, dựa vào vận may như trước nữa. Chắc chắn sẽ có nhiều cách nhìn khác nhau về mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam. Nhưng là gì đi nữa, chắc ai cũng sẽ đồng ý: nó không nên là một mô hình chèn ép người tử tế.
Muốn tạo ra thay đổi đối với sức cạnh tranh cốt lõi ở Việt Nam thì không nhất thiết chỉ có thể bắt đầu từ những thứ to tát như tranh cãi về chuyện có nên bơm tiền, kích cầu, phá giá đồng tiền hay không. Mà hãy bắt đầu bằng việc tạo ra một môi trường để người ta có thể làm ăn tử tế, sòng phẳng và không bị chèn ép.
Hy vọng rằng sau 10 năm nữa, những điều này không phải là chỉ là mơ ước ở Việt Nam.
(*) Đại học Bristol, Anh

Cờ vàng trong trái tim tôi (Tâm tư hải ngoại)


    Tôi lớn lên trong nỗi nhọc nhằn của mẹ, trên đôi gánh trĩu nặng trên vai bà.Tôi lên lớn mười năm đầu tiên trong đời không có người cha thân yêu bên cạnh. Tôi lớn lên vào cái thời mà không ai được nhắc đến 4 chữ VNCH. Tôi lớn lên 10 năm dưới mái trường XHCN, mỗi tuần tôi và các bạn cùng trang lứa vẫn hát vang vang bài chào quốc kỳ nhưng chẳng hiểu gì về lá cờ và cũng chưa một thầy cô giáo nào của CS dạy cho học sinh về nguồn gốc của lá cờ cả (mãi đến sau này tôi mới hiểu vì sao).

  Cho đến một ngày gia đình tôi đặt chân đến xứ sở tự do trên tinh thần “nhân đạo “của hai bên chính phủ, và cũng từng ấy năm kể từ ngày Sài Gòn thất thủ mới được thấy cảnh “chung một nhà”.

Thế là thế hệ những người như tôi một lần nữa lớn lên nhưng trong một xã hội hoàn toàn khác hẳn ở VN. Những ngày đầu bỡ ngỡ nơi xứ người tôi có rất nhiều thứ phải học, phải thay đổi nên chưa bao giờ để ý đến lá cờ ba tôi trân trọng treo ngay giữa nhà. Sau đó vài năm do còn trẻ nên tôi cũng bắt kịp nhịp sống và hoà nhập với cuộc sống ở đây. Khi đó tôi bắt đầu nhận thức những gì diễn ra xung quanh mình.
Cái mà hằng ngày đập vào mắt tôi đó là lá cờ của Mỹ, nó hiện hữu khắp nơi từ các cơ quan chính phủ, trường học, bệnh viện, văn phòng cảnh sát, nhà thờ v.v..và rất nhiều nơi trên mọi nẻo đường đến cả nhà ở của người dân. Ngày lễ ngày tết người dân tự ý thức treo cờ chứ không cần ai nhắc nhở. Cũng không phải riêng về việc treo cờ mà cả trong sinh hoạt thường ngày, trong những hoạt động nơi công cộng cũng như trong việc tổ chức xã hội tình cảm của công dân Mỹ đối với lá cờ của họ rất đồng thuận và trân trọng.

Ngày tháng trôi qua tôi bước vào ngưỡng cửa đại học và quyết định trở thành công dân Mỹ. Một điều bắt buộc khi trở thành công dân Mỹ là phải biết sơ lược về lịch sử của Mỹ và nguồn gốc của lá cờ. Và giờ đây tôi mới hiểu vì sao người Mỹ họ yêu nước, yêu lá cờ đến thế. Người ta yêu lá cờ vì nó đại diện cho vô số điều tốt đẹp ở phía sau. Tự do, dân chủ, nhân quyền, cũng như sự đồng lòng của tất cả người dân trong việc tạo ra một xã hội công bằng, văn minh và thịnh vượng. Một xã hội mà trong đó mỗi người đều có quyền lựa chọn cuộc sống cho riêng mình và quyền thực hiện ước mơ của mình.

Nhìn cách người Mỹ đối xử với lá cờ nước họ làm tôi giật mình nhìn lại tôi cũng có một đất nước, một quê hương nhưng sao tôi không biết gì về lá cờ của mình. Rồi tôi nhớ đến lá cờ ba tôi treo ở nhà sao không thấy giống lá cờ mà khi còn cắp sách đến trường tôi vẫn thấy nó nhỏ xíu, bạc màu, cũ kỷ nơi sân trường trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình ? Tôi đem tâm tư nặng trĩu về nhà hỏi ba tôi. Thì ra đất nước tôi, dân tộc tôi có một chiều dài lịch sử bi thương đến như vậy. Sau những gì ba tôi nói tôi bắt đầu đi tìm hiểu, tôi lật tung hết những quyển sách trong thư viện Mỹ nói về VNCH. Tôi đi ngược dòng lịch sử của miền Nam VN tìm về hai chế độ đệ I và đệ II VNCH. Càng tìm hiểu tôi càng thấy xót xa phía sau lá cờ vàng ba sọc đỏ ấy là máu và nước mắt của rất nhiều đồng bào đỗ xuống chỉ cho một miền Nam hòa bình và tự do. 

Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con
Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên
Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ.
Trung Tá Long !
Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm
Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai
Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai
Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt
Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt
Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi.
Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời
Tô thắm đường các em sẽ đến
Các em là thuyền nhờ có anh là bến
Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi
Ðường tự do dù còn lắm chông gai
Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước
Cám ơn anh, người con yêu đất nước
Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam.

( Trích Hơi thở Việt Nam, thơ Trần Trung Đạo)


   Tôi yêu lá cờ VNCH từ những hiểu biết của riêng tôi nhìn về thực trạng VN trong chế độ CS sau bốn mươi năm ngày càng tồi tệ. Tôi may mắn đang sống trong một xã hội luôn bảo vệ phụ nữ và trẻ em rồi nhìn lại thân phận người phụ nữ nơi quê nhà bị chà đạp nhân phẩm một cách thô bạo và trắng trợn, nhìn những em bé thơ vô tội không đủ ăn,không đủ mặc, ngay cả khi vừa chào đời cũng bị vứt vào thùng rác.

Vậy thì các bạn trẻ VN ơi các bạn chào cờ mỗi tuần mà có bao giờ đi tìm hiểu về lá cờ đó hay không?

Ngày nay tôi thấy các bạn xem phim Mỹ rất nhiều nhưng có khi nào các bạn để ý trong bất cứ một cuốn phim nào của người Mỹ cũng đều thấp thoáng lá cờ của họ trong đó còn phim ảnh của VN thì sao?

Thế đấy ! chính lòng yêu nước, yêu lá cờ của người Mỹ đã dạy tôi yêu lá cờ vàng ba sọc đỏ vì ngoài sự nhân bản ra nó còn mang nặng cả tình yêu quê hương, yêu mảnh đất mình sinh ra và lớn lên.

Có một lần khi đi làm Report cho buổi lễ Vinh Danh QLVNCH trong quốc hội tiểu bang VA tôi vô cùng xúc động khi bước vào phòng làm việc của thượng nghị sĩ Black. Ngay cạnh bàn làm việc của ông có 4 lá cờ mà một trong 4 lá cờ đó là cờ VNCH. Tôi vui mừng đến nỗi cứ kéo tay Thiếu Tướng Trần Quang Khôi đến đấy đứng làm mẫu cho tôi chụp hình. Rồi những lần đi vận động nhân quyền cho VN trong Quốc Hội Mỹ, biểu tình trước Toà Bạch Ốc chỉ cần tôi cầm lá cờ vàng trong tay là người ta biết tôi đang làm gì.

Có thể mỗi người có một quan điểm riêng về lá cờ nhưng riêng tôi dù tôi có ủng hộ một lá cờ nào khác đi nữa trong tim tôi vẫn có lá cờ vàng vi ít nhất cho đến bây giờ nó vẫn là một lá cờ chính nghĩa, ngoài ra nó còn có một phần xương máu của ba tôi, của những đồng đội ông. Nó có cả nước mắt của bà nội tôi, của mẹ tôi khóc con, chờ chồng. 

Tôi cảm ơn nước Mỹ đã cho tôi có cơ hội nói những gì mình muốn nói, tôi cảm ơn người dân Mỹ đã dạy tôi biết trân quý một lá cờ và cũng chính vì vậy mà tôi có cơ hội tìm về cội nguồn lịch sử và yêu quý cha mẹ tôi hơn !!!

Destiny Nguyễn

Việt Nam Cộng Hoà trong mắt tôi (Tâm tư hải ngoại)


 Trong cách tôi nhìn, 21 năm từ 1954 đến 1975 là khoảng thời gian phần nửa nước ở miền Nam cầm cự để mua thời gian cho dân tộc tìm lối thoát — phải thoát khi mà giặc Tàu đã chiếm nửa miền Bắc và quyết tâm nuốt trọn nước ta. 

Trong cách nhìn đó thì Việt Nam Cộng Hoà thể hiện truyền thống bảo vệ tổ quốc đã trải dài hơn 2 nghìn năm trước hoạ bắc thuộc; và những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã nối tiếp tinh thần của hai Bà Trưng, của Bà Triệu, của Trần Hưng Đạo, của Lê Lợi, của Quang Trung…

Kháng chiến chống xâm lăng

Thuở nhỏ ở miền Nam tôi nghe người lớn tranh luận về ý nghĩa của cuộc chiến. Có người gọi đó là cuộc nội chiến tương tàn của anh em một nhà, nồi da xáo thịt. Có người xem đó là chiến tranh ý thức hệ giữa những người theo lý tưởng quốc gia ở trong Nam và những người ôm chủ thuyết cộng sản ở ngoài Bắc. Lại có người cho rằng đó là chiến tranh uỷ nhiệm do các quốc gia đại cường bày ra để tranh giành ảnh hưởng. Chế độ ở miền Bắc thì gọi đó là cuộc chiến đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam. Tôi nghĩ rằng tất cả những quan điểm này đều phiến diện hoặc nguỵ tạo.

Thực chất đó là cuộc chiến của giặc Tàu xâm lăng nước ta và của ta chống lại giặc Tàu để gìn giữ quê hương. Miền Nam là thành trì kháng chiến cuối cùng của dân tộc Việt.

Sau đệ nhị thế chiến, Nga và Tàu đã dùng chủ thuyết quốc tế vô sản để thực hiện và biện minh cho chính sách bá quyền. Nga xâm chiếm 19 quốc gia Châu Á, Đông Âu và Bắc Âu. Tàu thì sáp nhập Tây Tạng và xâm chiếm lãnh thổ của 19 quốc gia khác, chưa kể dự tính chiếm cả bán đảo Triều Tiên nhưng thất bại. Họ quỷ quyệt dùng tập đoàn cộng sản đàn em ở bản địa để xâm chiếm lãnh thổ và khống chế các dân tộc bị trị. Bản chất đế quốc của họ càng lộ rõ khi gần đây Nga sáp nhập bán đảo Crimea và xâm chiếm Đông Ukraine, và Tàu vẽ đường lưỡi bò để lấn chiếm gần hết Biển Đông.

   Luận điệu giải phóng miền Nam là luận điệu hoàn toàn nguỵ tạo. Miền Nam là vùng đất tự do. Hoa Kỳ không hề có ý định xâm lăng để phải giải phóng. 

 Sau Đệ Nhị Thế Chiến, dù nắm cơ hội trong tay Hoa Kỳ không hề vi phạm chủ quyền lãnh thổ và nền độc lập của các quốc gia chiến bại là Đức, Ý, và Nhật. Ngược lại, Hoa Kỳ giúp tái thiết và phát triển các quốc gia này để trở thành các cường quốc dân chủ. Năm 1946 Hoa Kỳ tự nguyện trả độc lập cho Phi Luật Tân.

Hoa Kỳ đồng minh với Việt Nam Cộng Hoà vì muốn chặn không để làn sóng đỏ lan xuống toàn vùng Đông Nam Á. Khi các quốc gia Đông Nam Á đã vững mạnh, nhu cầu ngăn chặn không còn nữa; Hoa Kỳ rút lui. Việt Nam Cộng Hoà tiếp tục chiến đấu đến giây phút cuối cùng, để bảo vệ tổ quốc.

“Chống Mỹ cứu nước” là luận điệu nguỵ tạo nhằm che đậy cho cuộc chiến xâm lăng Việt Nam. Mỹ từ “thống nhất đất nước” thực chất mang ý nghĩa toàn bộ đất nước bị thôn tính bởi giặc Tàu.

Tân Bách Việt

Cuộc kháng chiến cầm cự 21 năm là tuyệt đối cần thiết. Thời gian 21 năm ấy hun đúc cho một đại khối người dân miền Nam tinh thần quật cường, tình tự dân tộc, và lòng yêu chuộng tự do, dân chủ. Khi những người lính cuối cùng buông súng thì ngõ thoát cho dân tộc vừa kịp mở ra: triệu cánh chim Lạc tung đi khắp bốn phương trời.

Thuở xưa, khi giặc tràn xuống, đánh tan và đồng hoá Bách Việt, một bộ tộc trong trăm bộ tộc Việt đã vượt núi xuống phương Nam để sinh tồn và xây dựng nên giải gấm vóc lấy tên là Việt Nam — Việt nghĩa là vượt, vượt xuống phương Nam.

   Bốn mươi năm trước, khi giặc chiếm toàn nước Việt Nam, triệu người Việt đã vượt đại dương để tìm tự do cho bản thân, và gìn giữ giòng sinh mệnh và niềm hy vọng cho cả dân tộc. 

    Trong chớp mắt của lịch sử, giòng giống Việt đã vượt xa khỏi mảnh đất cong hình chữ S và lan ra khắp địa cầu, bám rễ và nẩy chồi ở các quốc gia văn minh nhất, tự do và phú cường nhất hành tinh.

Đất lành chim đậu. Hơn bốn triệu con dân Việt nay đã là công dân của thế giới tự do, với sức mạnh và thế đứng ngày càng vững chãi. Đó là căn bản để từ mỗi quốc gia tự do chúng ta xây dựng lại thế và sức mạnh liên đới của trăm tộc Việt như thuở nào.

   Một tân Bách Việt ngày nay, trải rộng khắp năm châu, sẽ mạnh bằng nghìn Bách Việt thời cổ đại. Đó sẽ là hậu cứ để yểm trợ cho đại khối dân tộc ở trong nước khôi phục giang sơn, phát triển đất nước và vĩnh viễn đẩy lùi hoạ bắc xâm.

Trả lại sự thật cho lịch sử

Trong cách nhìn từ bối cảnh giòng sử Việt gần 5 nghìn năm, 21 năm Việt Nam Cộng Hoà là cuộc kháng chiến mở đường máu cho cuộc di dân vượt thoát vĩ đại của dân tộc Việt trước hiểm hoạ diệt vong, vĩ đại đến nỗi tổ tiên của chúng ta dù có mơ chắc cũng không thể nghĩ đến.

     Đó là lý do, từ lâu rồi, tôi luôn tri ân những người lính và tất cả những người đã góp mồ hôi, xương máu của mình cho Việt Nam Cộng Hoà. Trong sự thiếu thốn và cô đơn, họ sẵn sàng hy sinh thân mạng, sẵn sàng chấp nhận khổ nhục, miễn sao cho dân tộc được trường tồn và giòng sử Việt mãi luân lưu.

Đã đến lúc tất cả chúng ta phải cùng nhau vinh danh và tri ân những người con ưu tú nhất, xứng đáng nhất và hào hùng nhất của Mẹ Việt Nam. Những anh hùng áo vải của dân tộc Việt.


Ts. Nguyễn Đình Thắng

Nguồn: BPSOS